Tài nguyên dạy học

Liên Kết Web

Thông tin

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phòng GD$ĐT Phú Quốc)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    THok.mp3 CTMN_tuan_20_THCS_okokok__qua.mp3 Phat_huy_suc_manh_tu_duy__Tu_duy_tong_luc_.flv La_thu_doat_giai_Nhat_cuoc_thi_viet_thu_gui_chien_sy_Truong_Sa.flv 000_0013.jpg 000_0001.jpg 000_0002.jpg Thu_dieu.flv Truyen_kieu_cua_nguyen_du.png SaddfsaDF.jpg 100_0085.jpg 100_0091.flv 000_00041.jpg Sfdsa.jpg 100_0078.jpg 000_0004.jpg 812.mp3 79.mp3 97.mp3 91.mp3

    Thành viên trực tuyến

    2 khách và 0 thành viên

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với website của phòng GD - ĐT Phú Quốc.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Việt Nam quê hương tôi >

    HÌNH ẢNH CỘNG ĐỒNG 54 DÂN TỘC VIỆT NAM


    Việt Nam - tổ quốc của nhiều dân tộc. Các dân tộc cùng là con cháu của Lạc Long Quân - Âu Cơ, nở ra từ trăm trứng, nửa theo mẹ lên núi, nửa theo cha xuống biển, cùng mở mang xây dựng non sông "Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền", với rừng núi trùng điệp, đồng bằng sải cánh cò bay và biển Đông bốn mùa sóng vỗ; bờ cõi liền một dải từ chỏm Lũng Cú (Bắc) đến xóm Rạch Tàu (Nam), từ đỉnh Trường Sơn (Tây) đến quần đảo Trường Sa (Đông).
    Cùng chung sống lâu đời trên một đất nước, các dân tộc có truyền thống yêu nước, đoàn kết giúp đỡ nhau trong chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội, suốt quá trình lịch sử dựng nước, giữ nước và xây dựng phát triển đất nước.
    Lịch sử chinh phục thiên nhiên là bài ca hùng tráng, thể hiện sự sáng tạo và sức sống mãnh liệt, vượt lên mọi trở ngại thích ứng với điều kiện tự nhiên để sản xuất, tồn tại và phát triển của từng dân tộc. Với điều kiện địa lý tự nhiên (địa mạo, đất đai, khí hậu...) khác nhau, các dân tộc đã tìm ra phương thức ứng xử thiên nhiên khác nhau.
    Ở đồng bằng và trung du, các dân tộc làm ruộng, cấy lúa nước, dựng nên nền văn hoá xóm làng với trung tâm là đình làng, giếng nước cây đa, bao bọc bởi lũy tre gai góc đầy sức sống dẻo dai. Đồng bằng, nghề nông, xóm làng là nguồn cảm hứng, là "bột" của những tấm áo mớ ba mớ bảy, của dải yếm đào cùng nón quai thao, của làn điệu quan họ khoan thai mượt mà và của khúc dân ca Nam Bộ ngân dài chứa đựng sự mênh mông của đồng bằng sông Cửu Long.
    Ở vùng thấp của miền núi, các dân tộc trồng lúa nước kết hợp với sản xuất trên khô để trồng lúa nương, trồng ngô, bước đầu trồng các cây công nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế...), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình cảm cộng đồng sâu sắc. Người uống ngây ngất bởi hơi men và đắm say bởi tình người.
    Ở vùng cao Việt Bắc, Tây Nguyên, đồng bào chọn phương thức phát rừng làm rẫy - là cách ứng xử thiên nhiên của thời đại tiền công nghiệp. Vùng cao, khí hậu á nhiệt đới, việc trồng trọt chủ yếu thực hiện trong vụ hè thu. Để tranh thủ thời tiết và quay vòng đất, từ ngàn xưa người vùng cao đã phát triển xen canh gối vụ, vừa tăng thu nhập vừa bảo vệ đất khỏi bị xói mòn bởi những cơn mưa rào mùa hạ. Bàn tay khéo léo và tâm hồn thẩm mỹ của các cô gái đã tạo ra những bộ trang phục: váy, áo với những hoa văn sặc sỡ hài hoà về mầu sắc, đa dạng về mô típ, mềm mại về kiểu dáng, thuận cho lao động trên nương, tiện cho việc đi lại trên đường đèo, dốc. Núi rừng hoang sơ cùng với phương thức canh tác lạc hậu là mảnh đất phát sinh và phát triển các lễ nghi đầy tính huyền bí, huyền ảo. Hầu hết các cư dân Tây Nguyên đều có tục đâm trâu làm lễ cúng Giàng (trời), cầu xin sự phù hộ của Giàng cho người sức khoẻ, cho gia súc và cho mùa màng bội thu. Đây cũng là vùng tiềm ẩn nhiều truyện thần thoại, nhiều sử thi anh hùng mà giá trị của nó có thể sánh được với các truyện thần thoại của Trung Quốc, ấn Độ nhưng chưa được sưu tầm và nghiên cứu đầy đủ. Đồng bào là chủ nhân sáng tạo ra những bộ đàn đá, đàn T'rưng, đàn Krông pút... những bộ cồng chiêng và những điệu múa tập thể dân dã, khỏe khoắn kết bó cộng đồng.
    Dọc theo bờ biển từ Bắc vào Nam, các dân tộc sống bằng nghề chài lưới. Cứ sáng sáng đoàn thuyền của ngư dân giăng buồm ra khơi, chiều lại quay về lộng. Cuộc sống ở đây cũng nhộn nhịp, khẩn trương như nông dân trên đồng ruộng ngày mùa.
    Ở khắp nơi, con người hoà nhập vào thiên nhiên, thiên nhiên cũng biết chiều lòng người, không phụ công sức người.
    Sống trên mảnh đất Đông Dương - nơi cửa ngõ nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, Việt Nam là nơi giao lưu của các nền văn hoá trong khu vực. ở đây có đủ 3 ngữ hệ lớn trong khu vực Đông Nam Á, ngữ hệ Nam đảo, và ngữ hệ Hán - Tạng. Tiếng nói của các dân tộc Việt Nam thuộc 8 nhóm ngôn ngữ khác nhau:
    - Nhóm Việt - Mường có 4 dân tộc là: Chứt, Kinh, Mường, Thổ.
    - Nhóm Tày - Thái có 8 dân tộc là: Bố Y, Giáy, Lào, Lự, Nùng, Sán Chay, Tày, Thái.
    - Nhóm Môn - Khmer có 21 dân tộc là: Ba na, Brâu, Bru-Vân kiều, Chơ-ro, Co, Cơ-ho, Cơ-tu, Gié-triêng, Hrê, Kháng, Khmer, Khơ mú, Mạ, Mảng, M'Nông, Ơ-đu, Rơ-măm, Tà-ôi, Xinh-mun, Xơ-đăng, Xtiêng.
    - Nhóm Mông - Dao có 3 dân tộc là: Dao, Mông, Pà thẻn.
    - Nhóm Kađai có 4 dân tộc là: Cờ lao, La Chí, La ha, Pu péo.
    - Nhóm Nam đảo có 5 dân tộc là: Chăm, Chu-ru, Ê đê, Gia-rai, Ra-glai.
    - Nhóm Hán có 3 dân tộc là: Hoa, Ngái, Sán dìu.
    - Nhóm Tạng có 6 dân tộc là: Cống, Hà nhì, La hủ, Lô lô, Phù lá, Si la.
    Mặc dù tiếng nói của các dân tộc thuộc nhiều nhóm ngôn ngữ khác nhau, song do các dân tộc sống rất xen kẽ với nhau nên một dân tộc thường biết tiếng các dân tộc có quan hệ hàng ngày, và dù sống xen kẽ với nhau, giao lưu văn hoá với nhau, nhưng các dân tộc vẫn lưu giữ được bản sắc văn hoá riêng của dân tộc mình. Ở đây cái đa dạng của văn hoá dân tộc được thống nhất trong quy luật chung - quy luật phát triển đi lên của đất nước, như cái riêng thống nhất trong cái chung của cặp phạm trù triết học.
    Thời đại Hồ Chí Minh mở đầu bằng thắng lợi của Cách mạng tháng 8/1945 đã đổi đời các dân tộc. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta nhất quán từ đầu là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng đất nước theo mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc.
    Thực hiện chính sách dân tộc đúng đắn và sáng tạo trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, chúng ta đã đạt được những thành tựu rất to lớn, rất mới mẻ, rất hiện đại. Cơ sở hạ tầng đặc biệt là giao thông đường bộ, thuỷ lợi, viễn thông đã phát triển đến tuyến huyện và đang chuyển dần về xã, bản, nhanh, chậm tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng vùng. Với tư cách là người làm chủ đất nước, các dân tộc tham gia vào cơ quan quyền lực Nhà nước ngày càng nhiều, cao hơn. Đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật được Đảng và Nhà nước quan tâm đào tạo. Số cán bộ có trình độ đại học và trên đại học ngày càng tăng trong các dân tộc. Vốn văn hoá, nghệ thuật cổ truyền của các dân tộc được sưu tầm, bảo tồn, nghiên cứu, phát huy.
    Thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, các dân tộc vốn gắn bó với nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, nay lại càng gắn bó đoàn kết với nhau hơn trong công cuộc xây dựng đất nước. Những thành tựu đạt được trên là cơ sở vững chắc góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, nâng cao dân trí, nâng cao đời sống, phát triển các dân tộc.

    DANH MỤC THÀNH PHẦN CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
    TT
    Dân tộc
    Tên tự gọi
    Tên gọi khác
    Nhóm địa phương
    1
    Kinh (Việt)

    Kinh

    2
    Tày

    Thổ
    Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, Pa Dí.
    3
    Thái

    Tay, Thay
    Tay Thanh, Man Thanh, Tay Mười, Tay Mường, Hàng Tổng, Tay Dọ, Thổ
    Ngành Đen (Tay Đăm). Ngành Trắng (Tay Đón hoặc Khao)
    4
    Mường

    Mol (Mon, Moan, Mual)

    Ao Tá (Âu Tá), Bi
    5
    Hoa (Hán)

    Khách, Hán, Tàu

    Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thảng Nhằm, Minh Hương, Hẹ...
    6
    Khmer

    Khmer
    Cur, Cul, Cu, Thổ, Việt gốc Miên, Khmer K'rôm

    7
    Nùng

    Nồng

    Nùng Giang, Nùng Xuồng, Nùng An, Nùng Inh, Nùng Lòi, Nùng Cháo, Nùng Phàn Slình, Nùng Quy Rịn, Nùng Dín
    8

    HMông (Mèo)

    Hmông, Na miẻo
    Mẹo, Mèo, Miếu Ha, Mán Trắng
    Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na miẻo
    9
    Dao

    Kìm Miền, Kìm Mùn
    Mán
    Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Lô Gang, DaoTiền, Dao Quần trắng, Dao Thanh Y, Dao Làn Tẻn
    10
    Gia-rai

    Gia Rai
    Giơ Ray, Chơ Ray
    Chor, Hđrung (gồm cả Hbau, Chor), Aráp, Mthur, Tơbuân
    11
    Ê-đê

    Anăk Ê Đê
    Anăk Ê Đê, Ra Đê, Ê Đê-Êgar, Đê
    Kpă, Adham, Krung, Mđhu, Ktul, Dliê, Hruê, Bih, Blô, Kah, Kdrao, Dong Kay, Dong Mak, Ening, arul, Hwing, Ktlê, Êpan
    12
    Ba-na

    Ba Na
    BơNâm, Roh, Kon Kđe, Ala Kông, Kpang Kông
    Rơ Ngao, Rơ Lơng (Y Lăng), Tơ Lô, Gơ Lar, Krem
    13
    Sán Chay
    (Cao lan - Sán chỉ)

    Sán Chay

    Hờn Bán, Chùng, Trại...
    Cao Lan, Sán Chỉ
    14
    Chăm (chàm)

    Chàm, Chiêm, Chiêm thành, Chăm Pa, Hời...
    Chăm Hroi, Chăm Pông, Chà Và Ku, Chăm Châu Đốc
    15
    Xê-đăng

    Xơ Teng, Tơ Đrá, Mnâm, Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ., Châu
    Xơ Đăng, Kmrâng, Con Lan, Brila.

    Xơ Trng, Tơ Đrá, Mnâm. Ca Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu.
    16
    Sán Dìu

    San Déo Nhín ( Sơn Dao Nhân)
    Trại, Trại Đất, Mán Quần Cộc, Mán Váy xẻ

    17
    Hrê

    Hrê
    Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Lũy, Sơn Phòng, Đá Vách, Chăm Quảng Ngãi, Chòm, Rê, Man Thạch Bích.

    18
    Cơ-ho

    Cơ-Ho

    Xrê, Nộp (Tu Nốp), Cơ Dòn, Chil, Lát (Lách), Tơ Ring.
    19

    Ra Glay

    Rai, Hoang, La Oang
    20
    M'Nông

    M'Nông

    Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Đíp, Mnông Bu Nor, Mnông Bu Đâng, Mnông Bu Đêh...
    21
    Thổ

    Thổ
    Người Nhà làng. Mường, Con Kha, Xá Lá Vàng
    Kẹo, Mọn, Cuối, Họ, Đan Lai, Li Hà, Tày Poọng
    22
    Xtiêng

    Xa Điêng, Xa Chiêng
    Bù Lơ, Bù Đek (Bù Đêh), Bù Biêk.
    23
    Khơ Mú

    Kmụ, Kưm Mụ
    Xá Cẩu, Khạ Klẩu, Măng Cẩu, Tày Hạy, Mứn Xen, Pu Thềnh, Tềnh

    24
    Bru-Vân Kiều

    Bru
    Bru, Vân Kiều
    Vân Kiều, Trì, Khùa, Ma Coong
    25
    Giáy

    Giáy
    Nhắng, Dẳng

    26
    Cơ tu

    Cơ Tu
    Ca Tu, Ka Tu

    27
    Gié-Triêng

    Gié, Triêng, Ve, Bnoong
    Cà Tang, Giang Rẫy
    Gié (Giẻ),Triêng,Ve, Bnoong (Mnoong)
    28
    Ta Ôi

    Tôi Ôi, Pa Cô, Tà Uốt, Kan Tua, Pa Hi ...
    Tà Ôi, Pa Cô, Pa Hi

    29
    Mạ

    Mạ
    Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ
    Mạ Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô, Mạ Krung
    30
    Co

    Cor, Col
    Cua, Trầu

    31
    Chơ Ro

    Châu Ro, Dơ Ro, Chro, Thượng

    32
    Hà Nhì

    Hà Nhì Già
    U Ní, Xá U Ní
    Hà Nhì Cồ Chồ, Hà Nhì La Mí, Hà Nhì Đen
    33
    Xinh Mun

    Xinh Mun
    Puộc, Xá, Pnạ
    Xinh Mun Dạ, Xinh Mun Nghẹt.
    34
    Chu-ru

    Chơ Ru, Kru, Thượng

    35
    Lào

    Thay, Thay Duồn, Thay Nhuồn
    Phu Thay, Phu Lào
    Lào Bốc (Lào Cạn), Lào Nọi (Lào Nhỏ)
    36
    La Chí

    Cù Tê
    Thổ Đen, Mán, Xá

    37

    Phù Lá

    Lao Va Xơ, Bồ Khô Pạ, Phù Lá
    Xá Phó, Cần Thin
    Phù Lá Lão-Bồ Khô Pạ, Phù Lá Đen, Phù Lá Hán
    38
    La Hủ

    La Hủ
    Xá lá vàng, Cò Xung, Khù Sung, Kha Quy, Cọ Sọ, Nê Thú
    La hủ na (đen), La-hủ sư (vàng) và La-hủ phung (trắng)
    39
    Kháng

    Mơ Kháng
    Háng, Brển, Xá
    Kháng Dẩng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bủ Háng, Ma Háng Bén, Bủ Háng Cọi
    40
    Lự

    Lừ, Thay, Thay Lừ.
    Phù Lừ, Nhuồn, Duồn
    Lự Đen (Lự Đăm), Lự Trắng (ở Trung Quốc)
    41
    Pà Thẻn

    Pà Hưng
    Mèo Lài, Mèo Hoa, Mèo Đỏ, Bát tiên tộc...

    42
    Lô Lô

    Lô Lô
    Mùn Di, Di, Màn Di, La Ha, Qua La, Ô man, Lu Lộc Màn
    Lô Lô hoa, Lô Lô đen

    43
    Chứt

    Chứt
    Rục, Arem, Sách.
    Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng
    44
    Mảng

    Mảng
    Mảng Ư, Xá Mảng,
    Mảng Gứng, Mảng
    45
    Cờ lao

    Cờ Lao
    Tứ Đư, Ho Ki, Voa Đề.
    Cờ Lao Xanh, Cờ Lao Trắng, Cờ Lao Đỏ
    46
    Bố Y

    Bố Y
    Chủng Chá, Trọng Gia...
    Bố Y và Tu Dí
    47
    La Ha

    La Ha, Klá Plạo
    Xá Cha, Xá Bung, Xá Khao, Xá Táu Nhạ, Xá Poọng, Xá Uống, Bủ Hả, Pụa
    La Ha cạn (Khlá Phlao), La Ha nước (La Ha ủng)

    48
    Cống

    Xám Khống, Phuy A

    49
    Ngái

    Sán Ngải
    Ngái Hắc Cá, Ngái Lầu Mần, Hẹ, Sín, Đản, Lê, Xuyến

    50
    Si La

    Cù Dề Sừ
    Kha Pẻ

    51
    Pu Péo

    Kabeo
    La Quả, Penti Lô Lô

    52
    Brâu

    Brao

    53
    Rơ Măm

    54
    Ơ Đu

    Ơ Đu, I Đu
    Tày Hạt

    (Nguồn: Ủy ban Dân tộc)


    Nhắn tin cho tác giả
    Tống Hoàng Linh @ 21:06 19/12/2016
    Số lượt xem: 468
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến