Chào mừng quý vị đến với website của phòng GD - ĐT Phú Quốc.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Truyen tho Luc Van Tien su tiep bien Nho Phat Dao.

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:14' 05-02-2011
Dung lượng: 78.5 KB
Số lượt tải: 10
Nguồn: st
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:14' 05-02-2011
Dung lượng: 78.5 KB
Số lượt tải: 10
Số lượt thích:
0 người
Truyện thơ “Lục Vân Tiên”
sự tiếp biến ba tư tưởng Nho, Phật, Đạo
Võ Phúc Châu
Không biết tự bao giờ, văn chương Nguyễn Đình Chiểu đã thấm sâu vào đời sống tâm hồn người dân Nam Bộ. Tác giả là một trí thức lớn, quý Phật, gần Đạo, học và sống theo khuôn phép nhà Nho. Vậy mà tác phẩm của ông lại không hề mang âm sắc cao đạo của chuông vàng khánh bạc. Nó tự nhiên và giản dị như phù sa sông bồi. Nó nảy mầm xanh lá như cây gặp đất phù sa. Mỗi tác phẩm, mỗi nhân vật của ông chất chứa một phần yêu thương, khao khát của nhân dân. Bởi nó đã nói thay tư tưởng, tiếng lòng của những con người khai sơn phá thạch: mọi triết lý đều thấm vào hành vi ứng xử, thành những câu ca phập phồng hơi thở cuộc sống; mọi ràng buộc phép tắc bị cởi bỏ, được nhân dân đan dệt thành chiếc võng đạo lý, ru bao giấc mơ đầy màu sắc tín ngưỡng dân gian. Đưa tác phẩm của mình về với nhân dân, trở thành báu vật của nhân dân, đó không chỉ bởi tài năng, đó còn bởi Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp biến đầy sáng tạo những tư tưởng Nho, Phật, Đạo mà ông thấm nhuần bài bản từ sách vở. Sự tiếp biến ấy đã lộ diện ngay từ tác phẩm lớn đầu tiên của ông: truyện thơ Lục Vân Tiên.
Bài viết nhỏ này đi theo sức hút ấy, tìm hiểu vì sao Đồ Chiểu vẫn nói đến Nho, đến Phật, đến Đạo, mà nhân dân lại yêu quý, giữ gìn truyện thơ Lục Vân Tiên như chính suy nghĩ, tấm lòng mình.
*
Lục Vân Tiên quả là tác phẩm đáng dành làm bài ca hát ru con trẻ, làm lời ngâm tặng vợ chồng son, làm lời nghiêm răn những kẻ ăn ở hai lòng... Âm điệu du dương trầm bổng; chuyện lương duyên kỳ lạ, éo le; lắm thủy chung mà cũng nhiều phản trắc... đó là sức lay động, sức xuyên thấm mãnh liệt của khúc ca này.
Xét về tư tưởng, thơ Lục Vân Tiên đậm màu sắc Nho giáo. Lần theo cuộc hành trình của chàng nho sinh Lục Vân Tiên, gặp gỡ tiểu thư Kiều Nguyệt Nga, đối ẩm cùng Hớn Minh, Tử Trực, ẩn dật cùng ông Ngư, ông Tiều..., người đọc nhận ra Trung – Hiếu – Tiết – Nghĩa, rồi đến Nhân – Dũng – Khí, lại thêm Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín... Nhưng suy ngẫm kỹ, tất cả có còn là Nho thoát thai từ sách vở nữa đâu? Nó đã chuyển hóa thành đạo đức, thành đạo lý nhân dân mất rồi!
Bằng khả năng hạn hẹp, người viết bài này chỉ xin tìm hiểu hai nội dung lớn trong đó: Nhân và Nghĩa.
Mở đầu tác phẩm, chữ Nhân đã xuất hiện qua lời bình thấm thía:
“Trước đèn xem truyện Tây minh
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le”
Nhân, trong lời thơ, là lòng người ăn ở với nhau. Nó là khúc biến tấu từ chữ Nhân của Nho giáo. Trước hết, theo Khổng Tử, Nhân là sống đúng với mình, sống phải với người. Nhân dùng để giáo hóa con người,, cải biến xã hội từ loạn thành trị. Vậy ai học được chữ Nhân ấy? Thật khắc nghiệt! Chỉ có người quân tử, tức kẻ có địa vị trong xã hội, mới học được đức nhân. Với Khổng Tử, chưa hề có người tiểu nhân có nhân, nghĩa là những người chân lấm tay bùn, cui cút khổ nghèo, muôn đời không thể sống có nhân? Điều này quả thật xa lạ với Lục Vân Tiên.
Cũng theo Khổng Tử, Nhân là sửa mình theo lễ: khi ở nhà thì giữ gìn cho khiêm cung, khi làm việc thì kính cẩn, khi giao tiếp với người thì trung thành. Cách hiểu này, hóa ra, chỉ đòi hỏi sự phục tùng của kẻ dưới đối với bề trên. Xem đó, chữ Nhân trong Lục Vân Tiên phóng khoáng hơn nhiều. Có chăng, Nguyễn Đình Chiểu đã học được ở Khổng Tử chữ Ái nhân (lòng thương người).
Theo Khổng Tử, Nhân là cái gốc đạo đức của con người, là đạo làm người. Tuy nhiên, đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu lại thật gần gũi, phù hợp với nhân dân.
Xét đến Mạnh Tử, người kế tục Khổng Tử, chữ Nhân đứng hàng đầu trong bốn đức lớn: Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí. Chúng bắt nguồn từ bốn đầu mối của Thiện. Trong đó, lòng thương xót là đầu mối của Nhân. Tuy nhiên, Nhân – Nghĩa, theo Mạnh Tử, cũng chỉ nhằm duy trì chế độ đẳng cấp mà thôi. Chữ Nhân của Nguyễn Đình Chiểu gần gũi mà thiêng liêng hơn: biết sống cao đẹp,
sự tiếp biến ba tư tưởng Nho, Phật, Đạo
Võ Phúc Châu
Không biết tự bao giờ, văn chương Nguyễn Đình Chiểu đã thấm sâu vào đời sống tâm hồn người dân Nam Bộ. Tác giả là một trí thức lớn, quý Phật, gần Đạo, học và sống theo khuôn phép nhà Nho. Vậy mà tác phẩm của ông lại không hề mang âm sắc cao đạo của chuông vàng khánh bạc. Nó tự nhiên và giản dị như phù sa sông bồi. Nó nảy mầm xanh lá như cây gặp đất phù sa. Mỗi tác phẩm, mỗi nhân vật của ông chất chứa một phần yêu thương, khao khát của nhân dân. Bởi nó đã nói thay tư tưởng, tiếng lòng của những con người khai sơn phá thạch: mọi triết lý đều thấm vào hành vi ứng xử, thành những câu ca phập phồng hơi thở cuộc sống; mọi ràng buộc phép tắc bị cởi bỏ, được nhân dân đan dệt thành chiếc võng đạo lý, ru bao giấc mơ đầy màu sắc tín ngưỡng dân gian. Đưa tác phẩm của mình về với nhân dân, trở thành báu vật của nhân dân, đó không chỉ bởi tài năng, đó còn bởi Nguyễn Đình Chiểu đã tiếp biến đầy sáng tạo những tư tưởng Nho, Phật, Đạo mà ông thấm nhuần bài bản từ sách vở. Sự tiếp biến ấy đã lộ diện ngay từ tác phẩm lớn đầu tiên của ông: truyện thơ Lục Vân Tiên.
Bài viết nhỏ này đi theo sức hút ấy, tìm hiểu vì sao Đồ Chiểu vẫn nói đến Nho, đến Phật, đến Đạo, mà nhân dân lại yêu quý, giữ gìn truyện thơ Lục Vân Tiên như chính suy nghĩ, tấm lòng mình.
*
Lục Vân Tiên quả là tác phẩm đáng dành làm bài ca hát ru con trẻ, làm lời ngâm tặng vợ chồng son, làm lời nghiêm răn những kẻ ăn ở hai lòng... Âm điệu du dương trầm bổng; chuyện lương duyên kỳ lạ, éo le; lắm thủy chung mà cũng nhiều phản trắc... đó là sức lay động, sức xuyên thấm mãnh liệt của khúc ca này.
Xét về tư tưởng, thơ Lục Vân Tiên đậm màu sắc Nho giáo. Lần theo cuộc hành trình của chàng nho sinh Lục Vân Tiên, gặp gỡ tiểu thư Kiều Nguyệt Nga, đối ẩm cùng Hớn Minh, Tử Trực, ẩn dật cùng ông Ngư, ông Tiều..., người đọc nhận ra Trung – Hiếu – Tiết – Nghĩa, rồi đến Nhân – Dũng – Khí, lại thêm Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín... Nhưng suy ngẫm kỹ, tất cả có còn là Nho thoát thai từ sách vở nữa đâu? Nó đã chuyển hóa thành đạo đức, thành đạo lý nhân dân mất rồi!
Bằng khả năng hạn hẹp, người viết bài này chỉ xin tìm hiểu hai nội dung lớn trong đó: Nhân và Nghĩa.
Mở đầu tác phẩm, chữ Nhân đã xuất hiện qua lời bình thấm thía:
“Trước đèn xem truyện Tây minh
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le”
Nhân, trong lời thơ, là lòng người ăn ở với nhau. Nó là khúc biến tấu từ chữ Nhân của Nho giáo. Trước hết, theo Khổng Tử, Nhân là sống đúng với mình, sống phải với người. Nhân dùng để giáo hóa con người,, cải biến xã hội từ loạn thành trị. Vậy ai học được chữ Nhân ấy? Thật khắc nghiệt! Chỉ có người quân tử, tức kẻ có địa vị trong xã hội, mới học được đức nhân. Với Khổng Tử, chưa hề có người tiểu nhân có nhân, nghĩa là những người chân lấm tay bùn, cui cút khổ nghèo, muôn đời không thể sống có nhân? Điều này quả thật xa lạ với Lục Vân Tiên.
Cũng theo Khổng Tử, Nhân là sửa mình theo lễ: khi ở nhà thì giữ gìn cho khiêm cung, khi làm việc thì kính cẩn, khi giao tiếp với người thì trung thành. Cách hiểu này, hóa ra, chỉ đòi hỏi sự phục tùng của kẻ dưới đối với bề trên. Xem đó, chữ Nhân trong Lục Vân Tiên phóng khoáng hơn nhiều. Có chăng, Nguyễn Đình Chiểu đã học được ở Khổng Tử chữ Ái nhân (lòng thương người).
Theo Khổng Tử, Nhân là cái gốc đạo đức của con người, là đạo làm người. Tuy nhiên, đạo làm người của Nguyễn Đình Chiểu lại thật gần gũi, phù hợp với nhân dân.
Xét đến Mạnh Tử, người kế tục Khổng Tử, chữ Nhân đứng hàng đầu trong bốn đức lớn: Nhân – Nghĩa – Lễ - Trí. Chúng bắt nguồn từ bốn đầu mối của Thiện. Trong đó, lòng thương xót là đầu mối của Nhân. Tuy nhiên, Nhân – Nghĩa, theo Mạnh Tử, cũng chỉ nhằm duy trì chế độ đẳng cấp mà thôi. Chữ Nhân của Nguyễn Đình Chiểu gần gũi mà thiêng liêng hơn: biết sống cao đẹp,
 






Các ý kiến mới nhất