Tài nguyên dạy học

Liên Kết Web

Thông tin

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phòng GD$ĐT Phú Quốc)

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    THok.mp3 CTMN_tuan_20_THCS_okokok__qua.mp3 Phat_huy_suc_manh_tu_duy__Tu_duy_tong_luc_.flv La_thu_doat_giai_Nhat_cuoc_thi_viet_thu_gui_chien_sy_Truong_Sa.flv 000_0013.jpg 000_0001.jpg 000_0002.jpg Thu_dieu.flv Truyen_kieu_cua_nguyen_du.png SaddfsaDF.jpg 100_0085.jpg 100_0091.flv 000_00041.jpg Sfdsa.jpg 100_0078.jpg 000_0004.jpg 812.mp3 79.mp3 97.mp3 91.mp3

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chức năng chính 1

    Chào mừng quý vị đến với website của phòng GD - ĐT Phú Quốc.

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    Tìm hiểu văn bia từ góc nhìn thể loạ

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: st
    Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
    Ngày gửi: 14h:12' 05-02-2011
    Dung lượng: 118.5 KB
    Số lượt tải: 8
    Số lượt thích: 0 người
    Tìm hiểu văn bia từ góc nhìn thể loại
     
    Văn bia (Bi văn) là từ dùng để chỉ bài văn khắc trên bia đá. Theo khảo chứng của các nhà nghiên cứu Trung Quốc thì văn bia vốn là một hình thức được chuyển hóa từ minh văn trên đồ vật đúc đồng thời Ân - Chu. Chính vì vậy, văn bia thời kỳ đầu, do ảnh hưởng của minh văn, thường được viết bằng văn vần, ngắn, đơn giản và cổ kính. Phải đến sau đời Hán văn bia mới phát triển thành hình thức có thêm bài tự dài ở trên để hình thành nên kết cấu trên tự dưới minh. Tự thì dùng văn xuôi, minh thì dùng áp vận. Tức là ở trên có bài văn xuôi ghi lại sự việc, ở dưới có bài ca ngợi bằng văn vần. Trên thực tế chúng đều là những bộ phận tổ thành của văn bia, cho nên gọi chung là Văn bia.
    Văn bia du nhập vào nước ta cùng với quá trình trị nhậm của các quan lại Trung Quốc dưới thời Bắc thuộc, khi đã có hình thức ổn định kiểu trên tự dưới minh. Bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn ở Đông Sơn Thanh Hóa có niên đại Đại Nghiệp nhà Tùy (năm 618), văn bia do viên Kiểm hiệu quận Giao Chỉ là Nguyễn Nhân Khí người ở Lạc Dương, đạo Hà Nam, Trung Quốc viết, hay bia Thiên uy kính tân tạc hải phái bi dựng ở bờ kênh Thiên Uy - một địa điểm thuộc hải phận Việt Nam - có niên hiệu Hàm Thông nhà Đường (năm 870), văn bia do Bùi Hình, Chưởng Thư ký của Tiết độ sứ Giao Châu Cao Biền soạn, là những minh chứng cho nhận định này.
    Có lẽ do được thừa hưởng phong khí Tùy - Đường nên đến thời Lý, văn bia đã có kết cấu rất hoàn chỉnh, không bài nào không đầy đủ cả hai thành phần tự và minh, đồng thời văn viết rất điêu luyện với bài tự và bài minh đều khá dài. Tên bia thời kỳ này thường được đề là “… bi minh” hoặc “… bi minh tính tự”, chẳng hạn Sùng Nghiêm Diên Thánh tự bi minh, hoặc Viên Quang tự bi minh tính tự v.v… Điều đó cho thấy phần minh lúc này được coi là chủ thể của văn bia, còn phần văn xuôi đóng vai trò là phần tự của bài minh. Tuy nhiên khi đọc kỹ cả hai phần minh và tự trong văn bia thời kỳ này, có thể thấy bài tự chính là bài diễn giải bài minh ra văn xuôi, hoặc nếu hiểu ngược lại thì bài minh chỉ là bài tóm tắt của bài tự. Đồng thời bài minh vốn là chủ thể, nhưng thường được viết bằng giọng văn cổ kính, lại thêm bị gò vào thể vận văn tứ tự nên rất cô đọng, khó hiểu, ngược lại bài tự được viết bằng văn xuôi, diễn giải được sự việc rất chi tiết rõ ràng và dễ hiểu nên dường như bài tự lại là chủ thể của văn bia, bài minh ở dưới chỉ mang tính chất tán tụng, không còn quan trọng. Sang thời Trần các bài minh bắt đầu ngắn dần, cho đến cuối thời Trần đã thấy xuất hiện các văn bia không có bài minh và tên bia thường được dùng kèm với chữ “ký”, như Khai Nghiêm tự bi ký. Đến thời Lê, do ảnh hưởng của thể ký, văn bia ngày càng mang hình thức của một bài ký. Tuy vẫn có văn bia có đầy đủ kết cấu tự và minh nhưng thường dùng một cách trang trọng cho những sự kiện hoặc nhân vật quan trọng (thường ở văn bia lăng mộ). Rồi dần dần văn bia chủ yếu chỉ có bài ký, nếu có thêm phần minh văn thì chỉ còn là vài câu tán tụng khuôn sáo. Từ thời kỳ này về sau, văn bia hầu hết được đặt tên kèm theo chữ ký (đôi khi là chí), thành “… bi ký”, như Thánh Thọ tự bi ký, Trùng tu Hoa đình bi ký, Hồng Đức tiến sĩ đề danh bi ký, v.v…
    Văn bia thực chất là loại văn ứng dụng dùng để “ký” hoặc “chí” (ghi chép) những sự việc cần ghi nhớ, chính vì vậy cổ nhân thường xếp chúng vào thể ký. Chẳng hạn Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt văn tuyển, ở quyển 2 là phần về ký, tuyển chọn 15 bài thì trong đó có đến 9 bài là văn bia. Đồng thời hầu hết các văn tập, như Kim mã hành dư của Ngô Thì Nhậm, Phương Đình văn tập của Nguyễn Văn Siêu v.v… cũng đều xếp văn bia vào thể ký. Gần đây Nguyễn Đăng Na trong Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại cũng đã xếp văn bia vào loại ký(1). Tuy nhiên chúng tôi nhận thấy văn bia về phương diện loại hình vẫn mang những đặc trưng riêng về hình thức cũng như trong nội dung của nó, có những nguyên tắc nhất định khi viết, do đó theo chúng tôi văn bia nên được xem xét như một thể
     
    Gửi ý kiến