Chào mừng quý vị đến với website của phòng GD - ĐT Phú Quốc.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành
viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của
Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Quy khu lai tu cua Dao Tiem

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:08' 05-02-2011
Dung lượng: 50.5 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn: st
Người gửi: Tống Hoàng Linh (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:08' 05-02-2011
Dung lượng: 50.5 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Giới thiệu Quy khứ lai từ của Đào Tiềm.
Quy khứ lai từ (歸去來辭, Lời từ biệt khi về) là bài phú hay và rất nổi tiếng của Đào Tiềm (陶潛, 365 - 427), một danh sĩ cuối đời Đông Tấn, (Trung Quốc).
Theo Dịch Quân Tả, một học giả người Trung Quốc, cho biết khi Đào Tiềm làm quan lệnh Bành Trạch, có quan đốc bưu đến huyện, bọn tiểu lại khuyên ông nên buộc dây đai để tiếp quan đốc bưu, ông than rằng: “Ta không thể vì năm đấu gạo mà uốn lưng trước bọn hương lý tiểu nhi”. Nói rồi, nội ngày đó ông trả ấn từ quan đi về làng cũ. Trên đường ông hoàn thành bài ``Quy khứ lai`` để biểu lộ chí của minh. ``Quy khứ lai`` có nghĩa “Hãy đi về đi!”, giống như câu nhà Phật đã thường nói: “Quy mệnh khứ lai”, “Quy y khứ lai”. Chử “từ” là do người sau thêm vào.
Đào Tiềm sáng tác bài trên khi ông 41 tuổi, tức cũng là năm treo ấn từ quan (tháng 11 năm Ất Tỵ, tức 405 theo Tây lịch, đời vua An Đế nhà Đông Tấn, niên hiệu Nghĩa Hy nguyên). Theo GS. Huỳnh Minh Đức, thì: Bài này có trên Quy khứ lai từ hề, nhưng trong ``Chiêu Minh văn tuyển`` của thái tử Lương Chiêu Minh (con Lương Vũ Đế & là người đầu tiên sưu tập thơ Đào Tiềm) chữ "hề" bị bỏ đi. Chữ "lai" là một trợ ngữ từ, không có nghĩa
Sáng tác này nhằm bộc lộ tư tưởng của mình và ca tụng cảnh trí vườn ruộng.
Trước phần thơ, Đào Tiềm có viết bài Tự bằng văn xuôi như sau:
“Ta nhà nghèo, việc cấy trồng không đủ cung ứng cuộc sống. Con cái đầy nhà, trong hủ thì thiếu gạo, cuộc sống chưa phải giải quyết thế nào. Bà con, bạn bè đến khuyên ta ra làm quan. Không có gì cản trở, ta cũng có ý muốn tìm ít tước lộc, nhưng chưa tìm ra. Vừa lúc có việc quan các nơi, ta phụng mệnh quan ra kinh đô và được các chư hầu yêu mến, thúc phục cũng thương ta nghèo nên tiến cử ta làm quan lệnh. Bây giờ giặc giã chưa yên, trong lòng ta vẫn cứ sợ phải đi xa; huyện Bành Trạch cách nhà độ hơn trăm dặm, số thu công điền cũng đủ cho cuộc sống. Vì thế ta xin được đến làm quan ở đấy. Không lâu sau, ta lại có ý nhớ nhà, muốn về nhà.
Tại sao thế? Bản tính tự nhiên của ta là như thế, nên không thể miễn cưỡng, giả vờ được. Sự đói lạnh tuy là quan trọng thực đấy, nhưng làm ngược lại bản tính mình còn đau khổ nhiều hơn. Trước giờ ta từng theo làm việc với người khác cũng chỉ vì miếng ăn mà phải chịu cảnh tôi mọi. Thế rồi ta cảm thấy thất vọng, bị khích động tủi thẹn cho chí bình sinh. Ta vẫn định làm quan chừng hơn một năm rồi hãy len lén thu xếp áo quần mà về quê. Nhưng chỉ được ít lâu, nghe tin em gái ta là Trình thị (heo họ chồng) mất ở Võ Xương; vì tình ruột thịt, khiến ta phải mau mau chạy tang (Đào Tiềm nói vậy, nhưng các sách đều ghi ông từ quan chỉ vì không thể xu nịnh, luồn cúi). và tự động xin từ chức. Từ trọng thu (tháng 8) đến mùa đông, ta làm quan được hơn 80 ngày. Theo việc, thuận lòng, ta viết bài “Quy khứ lai hề”.
Tháng 11 năm Ất Tỵ (405)” (chép nguyên bản dịch in trong Hán Văn I, GS. Huỳnh Minh Đức biên soạn, tr. 242-243)
Bản dịch:
Lời từ biệt khi về
Trần Trọng San dịch nghĩa:
Về đi thôi hề, ruộng vườn sắp hoang vu, sao không về ?
Đã tự đem lòng cho hình sai khiến, sao còn một mình buồn bã, đau thương ?
Hiểu dĩ vãng không can nổi, biết tương lai có thể theo.
Chưa thực đi xa trên đường mê, thấy hôm nay phải còn hôm qua trái.
Thuyền phơi phới nhẹ đưa, gió hiu hiu thổi áo.
Hỏi khách chinh phu về con đường phía trước, giận ánh sáng ban mai còn mờ nhạt.
Rồi trông thấy nhà, vui tươi rong ruổi.
Tiểu đồng ra chào mừng, trẻ nhỏ đợi ngoài cổng.
Ra lối nhỏ đến vườn hoang, tùng cúc vẫn còn đây.
Dắt con vào nhà, córượu đầy ly.
Cầm nậm bối tự chuốc, ngắm cây sân, mặt vui.
Dựa cửa sổ nam, lòng phóng khoáng, thấy nơi chật hẹp dễ an nhàn.
Ngày ngày dạo qua vườn rồi thành thú, cửa tuy có đặt nhưng thường đóng.
Chống cây gậy thơ thẩn nghỉ ngơi, thường ngẩng đầu trông ra
Quy khứ lai từ (歸去來辭, Lời từ biệt khi về) là bài phú hay và rất nổi tiếng của Đào Tiềm (陶潛, 365 - 427), một danh sĩ cuối đời Đông Tấn, (Trung Quốc).
Theo Dịch Quân Tả, một học giả người Trung Quốc, cho biết khi Đào Tiềm làm quan lệnh Bành Trạch, có quan đốc bưu đến huyện, bọn tiểu lại khuyên ông nên buộc dây đai để tiếp quan đốc bưu, ông than rằng: “Ta không thể vì năm đấu gạo mà uốn lưng trước bọn hương lý tiểu nhi”. Nói rồi, nội ngày đó ông trả ấn từ quan đi về làng cũ. Trên đường ông hoàn thành bài ``Quy khứ lai`` để biểu lộ chí của minh. ``Quy khứ lai`` có nghĩa “Hãy đi về đi!”, giống như câu nhà Phật đã thường nói: “Quy mệnh khứ lai”, “Quy y khứ lai”. Chử “từ” là do người sau thêm vào.
Đào Tiềm sáng tác bài trên khi ông 41 tuổi, tức cũng là năm treo ấn từ quan (tháng 11 năm Ất Tỵ, tức 405 theo Tây lịch, đời vua An Đế nhà Đông Tấn, niên hiệu Nghĩa Hy nguyên). Theo GS. Huỳnh Minh Đức, thì: Bài này có trên Quy khứ lai từ hề, nhưng trong ``Chiêu Minh văn tuyển`` của thái tử Lương Chiêu Minh (con Lương Vũ Đế & là người đầu tiên sưu tập thơ Đào Tiềm) chữ "hề" bị bỏ đi. Chữ "lai" là một trợ ngữ từ, không có nghĩa
Sáng tác này nhằm bộc lộ tư tưởng của mình và ca tụng cảnh trí vườn ruộng.
Trước phần thơ, Đào Tiềm có viết bài Tự bằng văn xuôi như sau:
“Ta nhà nghèo, việc cấy trồng không đủ cung ứng cuộc sống. Con cái đầy nhà, trong hủ thì thiếu gạo, cuộc sống chưa phải giải quyết thế nào. Bà con, bạn bè đến khuyên ta ra làm quan. Không có gì cản trở, ta cũng có ý muốn tìm ít tước lộc, nhưng chưa tìm ra. Vừa lúc có việc quan các nơi, ta phụng mệnh quan ra kinh đô và được các chư hầu yêu mến, thúc phục cũng thương ta nghèo nên tiến cử ta làm quan lệnh. Bây giờ giặc giã chưa yên, trong lòng ta vẫn cứ sợ phải đi xa; huyện Bành Trạch cách nhà độ hơn trăm dặm, số thu công điền cũng đủ cho cuộc sống. Vì thế ta xin được đến làm quan ở đấy. Không lâu sau, ta lại có ý nhớ nhà, muốn về nhà.
Tại sao thế? Bản tính tự nhiên của ta là như thế, nên không thể miễn cưỡng, giả vờ được. Sự đói lạnh tuy là quan trọng thực đấy, nhưng làm ngược lại bản tính mình còn đau khổ nhiều hơn. Trước giờ ta từng theo làm việc với người khác cũng chỉ vì miếng ăn mà phải chịu cảnh tôi mọi. Thế rồi ta cảm thấy thất vọng, bị khích động tủi thẹn cho chí bình sinh. Ta vẫn định làm quan chừng hơn một năm rồi hãy len lén thu xếp áo quần mà về quê. Nhưng chỉ được ít lâu, nghe tin em gái ta là Trình thị (heo họ chồng) mất ở Võ Xương; vì tình ruột thịt, khiến ta phải mau mau chạy tang (Đào Tiềm nói vậy, nhưng các sách đều ghi ông từ quan chỉ vì không thể xu nịnh, luồn cúi). và tự động xin từ chức. Từ trọng thu (tháng 8) đến mùa đông, ta làm quan được hơn 80 ngày. Theo việc, thuận lòng, ta viết bài “Quy khứ lai hề”.
Tháng 11 năm Ất Tỵ (405)” (chép nguyên bản dịch in trong Hán Văn I, GS. Huỳnh Minh Đức biên soạn, tr. 242-243)
Bản dịch:
Lời từ biệt khi về
Trần Trọng San dịch nghĩa:
Về đi thôi hề, ruộng vườn sắp hoang vu, sao không về ?
Đã tự đem lòng cho hình sai khiến, sao còn một mình buồn bã, đau thương ?
Hiểu dĩ vãng không can nổi, biết tương lai có thể theo.
Chưa thực đi xa trên đường mê, thấy hôm nay phải còn hôm qua trái.
Thuyền phơi phới nhẹ đưa, gió hiu hiu thổi áo.
Hỏi khách chinh phu về con đường phía trước, giận ánh sáng ban mai còn mờ nhạt.
Rồi trông thấy nhà, vui tươi rong ruổi.
Tiểu đồng ra chào mừng, trẻ nhỏ đợi ngoài cổng.
Ra lối nhỏ đến vườn hoang, tùng cúc vẫn còn đây.
Dắt con vào nhà, córượu đầy ly.
Cầm nậm bối tự chuốc, ngắm cây sân, mặt vui.
Dựa cửa sổ nam, lòng phóng khoáng, thấy nơi chật hẹp dễ an nhàn.
Ngày ngày dạo qua vườn rồi thành thú, cửa tuy có đặt nhưng thường đóng.
Chống cây gậy thơ thẩn nghỉ ngơi, thường ngẩng đầu trông ra
 






Các ý kiến mới nhất